Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?

Mục lục

Trả lời câu hỏi giải ngoại hạng Anh có bao nhiêu vòng đấu?

AAA Areinitialiser5625.1k

Tin tức gần đây

Tiểu sử của đoàn văn công

Tiểu sử Đoàn Văn Hậu

Tiểu sử của Kylian Mappe

Tiểu sử của Kylian Mbappé

Tiểu sử của Cristiano Ronaldo

Tiểu sử của Cristiano Ronaldo

Cách đọc cược chi tiết trong bóng đá

Cách đọc cược chi tiết trong bóng đá

Trước Sau

Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?
Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?

Premier League

Wikipedia, bách khoa toàn thư miễn phí Đi tới điều hướng Đi tới tìm kiếm

Các        English Premier League (tiếng Anh:     Premier League    ), thường được gọi là     tiếng Anh Premier League     hoặc     EPL    , là bộ phận cao nhất trong hệ thống giải đấu bóng đá Anh. Bao gồm 20 câu lạc bộ, giải đấu sử dụng hệ thống thăng hạng và xuống hạng với Liên đoàn bóng đá Anh (EFL). Mùa giải kéo dài từ tháng 8 đến tháng 5, với mỗi đội thi đấu 38 trận (đấu với 19 đội khác trên sân nhà và sân khách).    [1]     Hầu hết các trận đấu được diễn ra vào chiều thứ Bảy và Chủ nhật.

Liên đoàn được thành lập vào ngày 20 tháng 2 năm 1992 với tên gọi     FA Premier League     sau quyết định của các câu lạc bộ tham gia Giải hạng nhất Liên đoàn bóng đá chia tay với Liên đoàn bóng đá, một giải đấu bắt đầu từ năm 1888, để tận dụng các thỏa thuận về bản quyền truyền hình.    [2]     Một hợp đồng toàn quốc trị giá 1 tỷ bảng Anh / năm được ký kết cho mùa giải 2013-2014, với BSkyB và BT Group lần lượt giành được quyền phát sóng 116 và 38 trận đấu.    [3]     Giải đấu mang về 2,2 tỷ euro / năm bản quyền truyền hình trong nước và quốc tế.    [4]     Tính đến mùa giải 2014-15, các câu lạc bộ đã chia cho Befits 1,6 tỷ bảng Anh,    [5]  và 2,4 tỷ bảng trong mùa giải 2016-17.    [6]

Hiện tại, Premier League là giải bóng đá được xem nhiều nhất trên thế giới, phát sóng tới 212 vùng lãnh thổ với 643 triệu hộ gia đình và khoảng 4,7 tỷ người xem.    [7]    [8]     Trong mùa giải 2014-15, trung bình 1 trận đấu ở Premier League thu hút khoảng 36.000 khán giả,    [9]     cao thứ hai trong bóng đá chuyên nghiệp sau Bundesliga với 43.500 khán giả.    [10]     Hầu hết các sân bóng đều chật kín khán giả.    [11]     Premier League được xếp hạng thứ 2 trong hệ số UEFA cho các cuộc thi dựa trên thành tích của các câu lạc bộ tại các giải đấu châu Âu trong 5 mùa giải, tính đến năm 2018.    [12]

Có tổng cộng 48 câu lạc bộ Anh và hai câu lạc bộ xứ Wales đã thi đấu kể từ mùa giải Premier League đầu tiên vào năm 1992, nhưng chỉ có bảy trong số đó giành được danh hiệu: Manchester United (13), Chelsea (5), Manchester City (5), Arsenal ( 3), Blackburn Rovers, Leicester City và Liverpool (1). Kỷ lục ghi nhiều điểm nhất trong một mùa giải ở Premier League là 100, hiện do Manchester City nắm giữ trong mùa giải 2017-18. Lịch sử đào tạo [sửa] sửa đổi mã nguồn]

Bối cảnh [sửa | sửa đổi mã nguồn]

Sau thành công ở châu Âu vào những năm 1970 và đầu những năm 1980, cuối những năm 1980 đánh dấu bước thụt lùi của bóng đá Anh. Các sân vận động xuống cấp, các cổ động viên phải sử dụng cơ sở vật chất tồi tàn, hành vi côn đồ xuất hiện nhiều và các câu lạc bộ của Anh bị cấm thi đấu ở châu Âu trong 5 năm sau thảm họa Heysel năm 1985, giải bóng đá cao nhất.   [13]   Giải bóng đá hạng nhất. League of England ra đời năm 1888, xếp sau Serie A của Ý và Liga của Tây Ban Nha về lượng khán giả cũng như thu nhập, một vài cầu thủ ngoại hạng người Anh đang chuyển ra nước ngoài thi đấu.    [14]

In the early 1990s, the trend gradually reversed: at the 1990 World Cup, England reached the semi-finals; UEFA, the governing body of European football, lifted the ban on English clubs from competing in European competitions in the same year, resulting in Manchester United winning the UEFA Cup Winners’ Cup a year later. then, with which Lord Justice Taylor issued a report in January of that year after the Hillsborough disaster, recommending that stadiums be upgraded to all-seater stadiums. [15]

In the 1980s, the major clubs in England began to transform into business ventures applying market mechanisms to club management to maximize profits. Martin Edwards of Manchester United, Irving Scholar of Tottenham Hotspur and David Dein of Arsenal are among the leaders in this shift. This gives the big clubs more power. By threatening to secede, Division One clubs attempted to increase their voting dominance. They also took a 50% stake in television earnings and sponsorships in 1986. [16] Television revenue also gradually became more important: The Football League received £6.3 million in a two-year deal in 1986, but upon a new contract extension in 1988, the value rose to £44 million for four years, with the big team taking 75% of the money. [17] [18]  According to Scholar, who was directly involved in the negotiations for the television deal, First Division teams received only around £25,000 from television royalties, but that figure has increased. increased to around £50,000 in negotiations in 1986 and £600,000 in 1988. [19] The 1988 negotiations were the first signs of a breakaway league: 10 clubs threatened to leave and form a “super league”, but were eventually persuaded to stay, when the teams The big ball makes up the biggest part of the deal. [17] [20] [21]  As stadiums remodel, attendance and revenue grow, top clubs are once again considering leaving the Football League to capitalize on cash flow. flows into sports. [21]

Founding[edit | edit source code]

See also: Establishment of the English Premier League

In 1990, the chief executive of London Weekend Television (LWT), Greg Dyke, met with representatives of the “big five” teams in England (Manchester United, Liverpool, Tottenham, Everton and Arsenal) for a dinner. [22]  The purpose of the meeting was to pave the way for a breakaway from the Football League. [23]  Dyke believes it would benefit LWT if only the larger domestic teams appeared on national television, and wanted to verify if the clubs were interested in a money stake. TV rights are greater or not. [24] However, the league would not have any credibility without the support of the English Football Association (FA), so Arsenal’s David Dein negotiated with the FA to accept the idea. The FA did not have a good relationship with the Football League at the time, so it was seen as a way to weaken the position of the Football League. [25]

Kết thúc mùa bóng 1991, một lời đề nghị đã được đưa ra về việc tạo ra giải đấu mới sẽ mang về nhiều tiền hơn. Bản hiệp định các thành viên sáng lập do các câu lạc bộ của giải đấu cấp cao nhất lúc đó ký ngày 17 tháng 7 năm 1991, nhằm lập ra các nguyên tắc cơ bản về việc thành lập FA Premier League.[26]> Giải đấu cấp cao nhất mới được thành lập này sẽ độc lập tài chính với Hiệp hội bóng đá Anh và Football League, giúp cho FA Premier League tự chủ về việc thỏa thuận các hợp đồng tài trợ và bản quyền truyền hình. Lý lẽ được đưa ra khi đó là việc tăng thu nhập sẽ giúp các câu lạc bộ Anh tăng khả năng cạnh tranh với các đội bóng khác ở châu Âu.[14] Mặc dù Dyke đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập giải bóng đá Ngoại hạng Anh, Dyke và ITV lại thất bại trong cuộc đấu thầu bản quyền phát sóng khi BSkyB là đơn vị giành gói thầu với trị giá 304 triệu bảng trong 5 năm, còn BBC nhận gói phát sóng các chương trình tổng hợp vòng đấu trên Match of the Day.[22][24]

Năm 1992, các câu lạc bộ Hạng Nhất đồng loạt từ bỏ Football League và tới ngày 27 tháng 5 năm 1992, FA Premier League thành lập 1 công ty trách nhiệm hữu hạn làm việc tại văn phòng của Hiệp hội bóng đá Anh sau đó đặt trụ sở chính ở Lancaster Gate.[14] Điều đó có nghĩa Football League chấm dứt 104 năm hoạt động với bốn giải đấu; Premier League sẽ hoạt động như một hạng đấu riêng còn Football League chỉ còn ba hạng. Không có sự thay đổi nào về thể thức; vẫn giữ nguyên số đội ở hạng đấu cao nhất, việc lên xuống hạng giữa Premier League và Hạng Nhất mới vẫn giữ nguyên như giữa Hạng Nhất và Nhì cũ với 3 đội lên hạng và 3 đội xuống hạng.[21]

Mùa giải đầu tiên diễn ra vào 1992–93 và có 22 câu lạc bộ tham dự. Bàn thắng đầu tiên tại Premier League được ghi bởi Brian Deane của Sheffield United trong trận thắng 2–1 trước Manchester United.[27] 22 thành viên ban đầu của Premier League mới là Arsenal, Aston Villa, Blackburn Rovers, Chelsea, Coventry City, Crystal Palace, Everton, Ipswich Town, Leeds United, Liverpool, Manchester City, Manchester United, Middlesbrough, Norwich City, Nottingham Forest, Oldham Athletic, Queens Park Rangers, Sheffield United, Sheffield Wednesday, Southampton, Tottenham Hotspur, và Wimbledon.[28] Luton Town, Notts County và West Ham United là 3 đội bị xuống hạng ở giải hạng nhất cũ mùa 1991–92, nên không được tham dự mùa giải đầu tiên của Premier League.[29]

“Top Four” thống trị (thập niên 2000)[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải ARS CHE LIV MUN
2000–01 2 6 3 1
2001–02 1 6 2 3
2002–03 2 4 5 1
2003–04 1 2 4 3
2004–05 2 1 5 3
2005–06 4 1 3 2
2006–07 4 2 3 1
2007–08 3 2 4 1
2008–09 4 3 2 1
2009–10 3 1 7 2
Tốp bốn 10 8 7 10
Trên 10
     vô địch Ngoại hạng
     vòng bảng Champions League
     vòng play-off / vòng loại thứ ba của Champions League
     vòng loại đầu tiên của Champions League
     UEFA Cup / Europa League

Một dấu hiệu nổi bật của Ngoại hạng Anh vào giữa thập niên 2000 là sự thống trị của nhóm “Top Four” gồm bốn câu lạc bộ: Arsenal, Chelsea, Liverpool và Manchester United.[30][31] Trong thập kỷ đó, cá biệt là từ 2002 tới 2009, họ thống trị 4 vị trí đầu, nơi có suất tham dự UEFA Champions League. Họ góp mặt cả trong 4 vị trí này 5 trong 6 mùa giải từ 2003–04 tới 2008–09, cùng với đó là việc Arsenal giành chức vô địch mà không thua trận nào mùa 2003–04, lần duy nhất diễn ra tại Premier League.[32]

Trong thập niên 2000 có bốn đội bóng ngoài “Big Four” đã giành được một suất trong top 4 Ngoại hạng Anh và giành vé tới đấu trường UEFA Champions League. Đó là Leeds United (1999–2000), Newcastle United (2001–02 và 2002–03), Everton (2004–05) và Tottenham Hotspur (2009–10) – mỗi đội đều đứng ở vị trí thứ 4 và giành suất cuối cùng dự Champions League, riêng Newcastle ở mùa bóng 2002–03, họ kết thúc ở vị trí thứ ba.

Tháng 5 năm 2008, Kevin Keegan phát biểu rằng việc thống trị của “Top Four” đe dọa đến giải đấu: “Giải đấu này có nguy cơ trở thành một trong những giải đấu lớn nhưng nhàm chán nhất thế giới.”[33] Giám đốc điều hành Premier League, Richard Scudamore phản biện lại rằng: “Có nhiều sự cạnh tranh khác nhau ở Premier League tại các vị trí đầu bảng, giữa bảng hay cuối bảng xếp hạng. Điều đó làm nên sự thú vị của giải đấu.”[34]

Trên đấu trường châu Âu, từ năm 2005 đến năm 2012, các đội bóng trong Big Four xuất hiện ở chung kết Champions League đến 7 trong tổng số 8 lần (ngoại trừ năm 2010). Liverpool (2005), Manchester United (2008) và Chelsea (2012) đã giành được chức vô địch, với Arsenal (2006), Liverpool (2007), Chelsea (2008) và Manchester United (2009 và 2011) đều để thua chung kết Champions League.[35] Arsenal là đội bóng duy nhất trong “Big Four” chưa giành được chức vô địch Champions League nào trong lịch sử.[36] Leeds United là đội bóng duy nhất ngoài Big Four tiến tới bán kết Champions League (2000–01).

Ở các cúp châu Âu khác (UEFA Cup và Europa League sau này), bốn đội bóng Anh đã tiến đến các trận chung kết của UEFA Cup (hay Europa League sau này), trong đó chỉ Liverpool đoạt cúp vào năm 2001. Arsenal (2000), Middlesbrough (2006) và Fulham (2010) đều thua trận chung kết.[37]

Từ Top 4 tới “Top 6″[sửa | sửa mã nguồn]

Từ sau năm 2009, đánh dấu sự thay đổi cấu trúc của “Top 4” với việc Tottenham Hotspur và Manchester City cùng lọt vào top 4.[38] Trong mùa giải 2009–10, Tottenham kết thúc ở vị trí thứ tư, qua đó trở thành đội bóng đầu tiên lọt vào top bốn kể từ sau Everton năm 2005.[39] Tuy nhiên, những chỉ trích về khoảng cách giữa nhóm các “siêu câu lạc bộ” và phần còn lại của Premier League thì vẫn tiếp diễn, do họ chi tiêu nhiều hơn so với các câu lạc bộ khác ở Premier League.[40] Kể từ khi liên tục có sự hiện diện của Manchester City và Tottenham Hotspur ở các vị trí đầu bảng xếp hạng, không có đội bóng nào bảo vệ thành công chức vô địch Ngoại hạng Anh.[41] Ngoài ra, Premier League là giải vô địch quốc gia duy nhất tại các quốc gia thuộc UEFA mà không có câu lạc bộ nào bảo vệ thành công chức vô địch.[42] Manchester City vô địch mùa 2011–12, trở thành câu lạc bộ đầu tiên ngoài “Top Four” vô địch kể từ mùa 1994–95. Đó cũng là mùa đầu tiên 2 trong 4 đội Top Four (Chelsea và Liverpool) kết thúc ngoài top 4 kể từ 1994–95.[38]

Mùa bóng ARS CHE LIV MCI MUN TOT
2010–11 4 2 6 3 1 5
2011–12 3 6 8 1 2 4
2012–13 4 3 7 2 1 5
2013–14 4 3 2 1 7 6
2014–15 3 1 6 2 4 5
2015–16 2 10 8 4 5 3
2016–17 5 1 4 3 6 2
2017–18 6 5 4 1 2 3
2018-19 5 3 2 1 6 4
2019-20 8 4 1 2 3 6
Top 4 6 7 5 10 6 5
Top 6 9 9 7 10 9 10
Tính đến hết mùa 2019/2020
     Vô địch
     Vòng bảng Champions League
     Vòng play-off champions League
     Europa League

Chỉ với 4 vị trí đầu tiên của giải đấu có được suất dự UEFA Champions League mà hiện nay có sự cạnh tranh lớn hơn 4 suất đó, mặc dù chỉ mới mở ra đến 6 đội bóng. Nếu các đội bằng điểm và hiệu số bàn thắng, một trận đấu phân định suất dự cúp Châu Âu sẽ được chơi ở sân trung lập. Trong năm mùa giải tiếp theo sau mùa bóng 2011–12, Manchester United và Liverpool đều đứng ngoài top bốn 3 lần trong khi Chelsea kết thúc ở vị trí 10 trong mùa giải 2015–16. Arsenal khép lại giải đấu ở vị trí thứ 5 vào mùa bóng 2016–17, kết thúc kỷ lục của họ với 20 lần liên tiếp kết thúc trong top bốn.[43]

Mùa bóng 2015–16, top bốn đã bị phá vỡ bởi một đội bóng nằm ngoài nhóm Big Six lần đầu tiên kể từ sau Everton năm 2005. Leicester City viết thành công câu chuyện cổ tích khi giành được chức vô địch Premier League và được tham dự vòng bảng Champions League.[44]

Ngoài sân cỏ, “Top 6” nắm giữ sức mạnh và tầm ảnh hưởng về tài chính, các đội bóng này cho rằng họ nên được hưởng phần doanh thu lớn hơn do tầm vóc của câu lạc bộ của họ trên toàn cầu và thứ bóng đá hấp dẫn mà họ nhắm đến.[45] Những người phản đối điều đó cho rằng cơ cấu doanh thu bình đẳng ở Premier League giúp duy trì tính cạnh tranh của giải đấu, điều đó rất quan trọng cho sự thành công trong tương lai.[46]

Xem thêm  Giấy nghỉ ốm hưởng bhxh tối đa bao nhiêu ngày ?

Quá trình phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Danh sách mùa giải Giải bóng đá Ngoại hạng Anh

Do yêu cầu của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), cơ quan quản lý bóng đá quốc tế, rằng các giải đấu trong nước phải giảm số trận đấu, số câu lạc bộ giảm xuống còn 20 năm 1995, với việc 4 đội xuống hạng và chỉ có 2 lên hạng.[47][48] Và cao nhất chỉ có 22 đội vào năm đầu tiên của mùa giải.[48]

Ngày 8 tháng 6 năm 2006, FIFA yêu cầu tất cả các giải đấu lớn của châu Âu, gồm cả Serie A của Italia và La Liga của Tây Ban Nha giảm xuống còn 18 đội bắt đầu từ mùa 2007–08. Premier League phản ứng bằng cách đưa ra các ý định của họ để phản đối việc cắt giảm.[49] Cuối cùng, mùa 2007–08 vẫn khởi tranh với 20 đội.[50]

Giải đấu được đổi tên FA Premier League đơn giản hơn thành Premier League năm 2007.[51]Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Football Association Premier League Ltd (FAPL)[52][53][54] được tổ chức như 1 công ty và được sở hữu bởi 20 thành viên câu lạc bộ. Mỗi câu lạc bộ là 1 cổ đông, với 1 phiếu mỗi khi biểu quyết về các vấn đề như thay đổi quy tắc và hợp đồng. Các câu lạc bộ lựa chọn ra 1 chủ tịch, giám đốc điều hành, và các thành viên ban giám đốc để giám sát các hoạt động của giải đấu.[55]

Chủ tịch hiện tại là Sir Dave Richards, được bổ nhiệm vào tháng 4 năm 1999, và giám đốc điều hành là Richard Scudamore, được bổ nhiệm tháng 11 năm 1999.[56] Cựu chủ tịch và giám đốc điều hành, John Quinton và Peter Leaver, bị buộc từ chức vào tháng 3 năm 1999 sau khi trao hợp đồng tư vấn cho cựu giám đốc Sky Sam Chisholm và David Chance.[57] Liên đoàn bóng đá Anh không trực tiếp tham gia vào việc điều hành Premier League, nhưng có quyền phủ quyết với tư cách cổ đông đặc biệt trong việc lựa chọn chủ tịch và giám đốc điều hành và khi các luật mới được đưa ra áp dụng cho giải đấu.[58]

Premier League có đại diện tại Hiệp hội các Câu lạc bộ châu Âu của UEFA, số câu lạc bộ và những câu lạc bộ được lựa chọn theo hệ số UEFA. Mùa giải 2012–13, Premier League có 10 đại diện trong Hiệp hội: Arsenal, Aston Villa, Chelsea, Everton, Fulham, Liverpool, Manchester City, Manchester United, Newcastle United và Tottenham Hotspur.[59] Hiệp hội các Câu lạc bộ châu Âu có trách nhiệm lựa chọn ra 3 thành viên tham gia Ủy ban các giải đấu cấp câu lạc bộ của UEFA, nơi tham gia điều hành các giải đấu của UEFA như Champions League và UEFA Europa League.[60]Thể thức giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Có 20 câu lạc bộ tại Premier League. Trong một mùa giải (từ tháng 8 tới tháng 5) mỗi câu lạc bộ sẽ thi đấu với các đối thủ khác 2 lần (vòng tròn 2 lượt), 1 trận sân nhà và 1 trận sân khách, tính ra có 38 trận đấu. Các đội sẽ giành được 3 điểm/trận thắng và 1 điểm/trận hòa. Không có điểm khi thua trận. Các đội sẽ được xếp hạng theo tổng số điểm giành được, rồi sau đó mới xét tới hiệu số bàn thắng, và số bàn ghi được. Nếu vẫn bằng điểm nhau, các đội sẽ được tính là xếp cùng vị trí. Nếu việc bằng nhau đó quyết định tới chức vô địch, xuống hạng hay giành quyền tham dự 1 giải đấu khác, 1 trận play-off sẽ được diễn ra trên sân trung lập để xác định thứ hạng.[61] 3 vị trí thấp nhất sẽ xuống chơi tại Football League Championship, còn 2 đội đứng đầu Championship, cùng với đội thắng vòng play-off dành cho các đội xếp từ thứ 3 tới thứ 6 Championship, sẽ giành quyền lên hạng.[62]

Năm 2008 đã từng có đề xuất thêm vòng đấu 39 nhưng ý tưởng này đã bị hủy bỏ.

Tư cách tham dự các giải đấu châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?Arsenal gặp Borussia Dortmund tại UEFA Champions League năm 2011

Mùa giải 2009–10, suất tham dự UEFA Champions League thay đổi, 4 đội đứng đầu Premier League giành quyền tham dự UEFA Champions League, với việc 3 đội dẫn đầu lọt trực tiếp vào vòng bảng. Trước đó chỉ có 2 đội dẫn đầu lọt trực tiếp. Đội xếp thứ 4 tham dự Champions League ở vòng play-off dành cho các đội không vô địch và phải thắng sau 2 lượt trận mới được vào vòng bảng.[63]

Đội xếp thứ 5 Premier League sẽ trực tiếp tham dự UEFA Europa League, đội thứ 6 và thứ 7 được tham dự hay không, phụ thuộc vào đội vô địch 2 cúp quốc nội là FA Cup và League Cup. Hai suất Europa League sẽ được dành cho đội vô địch của giải đấu đó; nếu đội vô địch FA Cup hoặc League Cup đã giành quyền tham dự Champions League, thì suất đó sẽ dành cho đội có vị trí kết thúc ở vị trí cao hơn tại Premier League.[64][65] Một suất tham dự UEFA Europa League khác cũng có thể giành được nhờ giải Fair Play. Nếu Premier League là một trong ba giải đứng bảng xếp hạng Fair Play của châu Âu, đội xếp cao nhất trong bảng xếp hạng Fair Play Premier League nếu chưa giành quyền tham dự cúp châu Âu sẽ được tham dự từ vòng loại thứ nhất UEFA Europa League.[66]

Một ngoại lệ xảy ra năm 2005, khi Liverpool vô địch Champions League năm trước đó, nhưng họ không giành được quyền tham dự Champions League tại Premier League mùa giải đó. UEFA dành cho Liverpool quyền đặc biệt tham dự Champions League, giúp Anh có 5 đội tham dự.[67] UEFA sau đó đưa ra quy định đội đương kim vô địch mặc nhiên được tham dự vào mùa sau bất chấp kết quả của họ tại giải quốc nội. Tuy nhiên, đối với những quốc gia có 4 suất tham dự Champions League, nếu nhà vô địch Champions League kết thúc ở vị trí ngoài đội đứng đầu ở giải quốc nội, đội đó sẽ lấy suất tham dự của đội xếp thứ 4. Tại thời điểm đó, không có một liên đoàn nào có hơn 4 đại diện tham dự Champions League.[68] Điều này diễn ra vào năm 2012, khi Chelsea – đội vô địch Champions League năm trước đó nhưng xếp thứ 6 tại giải trong nước – giành suất tham dự Champions League của Tottenham Hotspur, đội phải tham dự Europa League.[69]

Bắt đầu từ mùa 2015–16, đội vô địch Europa League sẽ được tham dự Champions League mùa giải tiếp theo, suất tối đa tham dự Champions League cho mỗi quốc gia được nâng lên 5. Một quốc gia có 4 suất Champions League, như Anh, sẽ chỉ kiếm được suất thứ 5 nếu một câu lạc bộ không giành được quyền tham dự Champions League thông qua giải quốc nội mà vô địch Champions League hoặc Europa League.[70]

Năm 2007, Premier League trở thành giải đấu đứng đầu bảng xếp hạng Các giải đấu châu Âu dựa theo thành tích của các câu lạc bộ Anh tại cúp châu Âu trong giai đoạn 5 năm. Điều này đã phá vỡ sự thống trị 8 năm của giải vô địch quốc gia Tây Ban Nha, La Liga.[71]

Các câu lạc bộ Premier League tại các giải quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thành tích quốc tế của các câu lạc bộ Giải bóng đá Ngoại hạng Anh

Từ mùa 1992–93 tới 2015–16, các câu lạc bộ Premier League đã 4 lần giành chức vô địch UEFA Champions League (và 5 lần giành á quân), xếp sau La Liga của Tây Ban Nha với 9 lần và Serie A của Italia với 5 lần, còn lại xếp trên các nước khác, xếp ngay trên Bundesliga của Đức với 3 lần vô địch.[72] (xem bảng tại đây) FIFA Club World Cup (hay FIFA Club World Championship, theo tên gọi ban đầu) từng 1 lần được các câu lạc bộ Premier League giành được (Manchester United năm 2008),[73] họ cũng 2 lần giành chức á quân (Liverpool vào 2005, Chelsea vào 2012),[74][75] xếp sau Brasileirão của Brazil[74][75][76][77] và La Liga của Tây Ban Nha với bốn lần,[78][79] và Serie A của Italia với hai lần.[80][81] (xem bảng tại đây)

Lên, xuống hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Các câu lạc bộ của Giải Ngoại hạng và Giải bóng đá hạng nhất Anh có sự chuyển đổi hạng thi đấu sau mỗi mùa giải. Cụ thể, ba đội bóng đứng cuối bảng xếp hạng của giải Ngoại hạng Anh sẽ trực tiếp xuống chơi tại Giải bóng đá hạng nhất Anh.[82] Còn 2 đội đứng đầu bảng của giải hạng nhất Anh sẽ trực tiếp thăng hạng lên Ngoại hạng Anh, một cầu lạc bộ còn lại sẽ lên hạng sau chiến thắng trong trận play-off giữa các đội đứng thứ 3, thứ 4, thứ 5 và thứ 6 giải hạng nhất Anh.[83] Số lượng các câu lạc bộ có sự chuyển đổi hạng thi đấu được thể hiện như sau:

  1992–1995: 22 câu lạc bộ1995–nay: 20 câu lạc bộ[48]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]Bài chi tiết: Danh sách các câu lạc bộ Giải bóng đá Ngoại hạng AnhXem thêm: Bảng xếp hạng tổng Giải bóng đá Ngoại hạng Anh

Có tổng cộng 50 câu lạc bộ từng tham dự Premier League từ khi thành lập năm 1992, tính đến mùa 2021–22.[84]

Các đội vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Danh sách các đội vô địch bóng đá Anh

STTMùa giảiĐội vô địch11992–93Manchester United21993–9431994–95Blackburn Rovers41995–96Manchester United51996–9761997–98Arsenal71998–99Manchester United81999–200092000–01102001–02Arsenal STTMùa giảiĐội vô địch112002–03Manchester United122003–04Arsenal132004–05Chelsea142005–06152006–07Manchester United162007–08172008–09182009–10Chelsea192010–11Manchester United202011–12Manchester City STTMùa giảiĐội vô địch212012–13Manchester United222013–14Manchester City232014–15Chelsea242015–16Leicester City252016–17Chelsea262017–18Manchester City272018–19282019–20Liverpool292020–21Manchester City

Số lần vô địch theo câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Số lần
vô địch
Năm vô địch
Manchester United 13 1992–93, 1993–94, 1995–96, 1996–97, 1998–99, 1999–2000, 2000–01, 2002–03, 2006–07, 2007–08, 2008–09, 2010–11, 2012–13
Chelsea 5 2004–05, 2005–06, 2009–10, 2014–15, 2016–17
Manchester City 5 2011–12, 2013–14, 2017–18, 2018–19, 2020–21
Arsenal 3 1997–98, 2001–02, 2003–04
Blackburn Rovers 1 1994–95
Leicester City 1 2015–16
Liverpool 1 2019–20

Các câu lạc bộ theo giai đoạn[sửa | sửa mã nguồn]

Do việc lên xuống hạng, chỉ có 6 thành viên sáng lập Premier League chưa từng xuống hạng, trong khi đó 6 đội sáng lập khác chưa thể trở lại sau khi xuống hạng. Có 25 câu lạc bộ giành được quyền thăng hạng, chỉ có 3 đội không xuống hạng trong mùa tiếp theo, trong khi đó có 7 đội xuống hạng ngay sau 1 giai đoạn. Số còn lại 15 câu lạc bộ lên xuống nhiều lần, như trường hợp của thành viên sáng lập Crystal Palace là 5 giai đoạn khác nhau.

Thành viên sáng lập Các câu lạc bộ lên hạng
Đang thi đấu tại giải Không thi đấu tại giải Đang thi đấu tại giải Không thi đấu tại giải
Chưa xuống hạng Arsenal, Chelsea, Everton, Liverpool, Manchester United, Tottenham Hotspur Brighton & Hove Albion, Brentford
Xuống hạng 1 lần Southampton, Aston Villa Coventry City, Leeds United, Oldham Athletic, Sheffield Wednesday A.F.C Bournemouth Barnsley, Blackpool, Bradford City, Portsmouth, Swindon Town, Wigan Athletic, Stoke City, Swansea City, Huddersfield Town
Xuống hạng 2 lần Manchester City Blackburn Rovers, Ipswich Town, Sheffield United Burnley, Watford, West Ham United, Newcastle United, Wolverhampton Wanderers Charlton Athletic, Derby County, Reading, Cardiff City, Fulham
Xuống hạng 3 lần Nottingham Forest, Queens Park Rangers Leicester City Birmingham City, Bolton Wanderers, Hull City
Xuống hạng 4 lần Crystal Palace Middlesbrough Sunderland, West Bromwich Albion
Xuống hạng 5 lần Norwich City

Mùa 2021–22[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là 20 câu lạc bộ tham dự Premier League mùa 2021–22:

Câu lạc bộ Vị trí
mùa 2020–21
Mùa đầu tiên
tại
giải VĐQG
Số mùa
tại
giải VĐQG
Số mùa
tại Premier
League
Mùa đầu tiên
trong giai đoạn hiện tại
ở giải VĐQG
Số
danh hiệu
VĐQG
Chức VĐQG
gần nhất
Arsenala, b 8 1904–05 105 30 1919–20 13 2003–04
Aston Villaa 11 1888–89 108 27 2019–20 7 1980–81
Brentford 3 tại Championship 1935–36 6 1 2021–22
Brighton & Hove Albion F.C. 16 1979–80 9 5 2017–18
Burnleyc 17 1888–89 59 8 2016–17 2 1959–60
Chelseaa, b 4 1907–08 87 30 1989–90 6 2016–17
Crystal Palacea 14 1969–70 22 13 2013–14
Evertona, b, c 10 1888–89 119 30 1954–55 9 1986–87
Leeds United 9 1924–25 52 14 2020–21 3 1991–92
Leicester City 5 1908–09 53 16 2014–15 1 2015–16
Liverpoola, b 3 1894–95 107 30 1962–63 19 2019–20
Manchester Citya 1 1899–1900 93 25 2002–03 7 2020–21
Manchester Uniteda, b 2 1892–93 97 30 1975–76 20 2012–13
Newcastle United F.C. 12 1898–99 90 27 2017–18 4 1926–27
Norwich Citya 1 tại Championship 1972–73 28 10 2021–22
Southamptona 15 1966–67 45 23 2012–13
Tottenham Hotspura, b 7 1909–10 87 30 1978–79 2 1960–61
Watford 2 tại Championship 1982–83 14 8 2021–22
West Ham United 6 1923–24 64 26 2012–13
Wolverhampton Wanderersc 13 1888–89 67 8 2018–19 3 1958–59
  • Fulham, West Bromwich Albion và Sheffield United xuống chơi tại Championship mùa giải 2021–22, trong khi đó Norwich City, Watford và Brentford, lần lượt là đội vô địch, á quân và đội thắng trong trận chung kết playoff, lên thi đấu từ Championship mùa giải 2020–21.
  • Brighton & Hove Albion là câu lạc bộ vẫn tiếp tục tại Premier League sau lần lên hạng đầu tiên với mùa giải thứ 5 (trong tổng cộng 30 mùa).

a: Thành viên sáng lập Premier League

b: Chưa từng xuống hạng từ Premier League

c: Một trong 12 đội Football League ban đầuNgoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?

London

London

Aston Villa

Aston Villa

Bornemouth

Bournemouth

Brighton and Hove Albion

Brighton &
Hove Albion

Burnley

Burnley

Everton

Everton

Leicester City

Leicester City

Liverpool

Liverpool

thành phố Manchester

Manchester
City

Manchester United

Man-
chester
United

Câu lạc bộ bóng đá Newcastle United

Newcastle United

Thành phố Norwich

Norwich City

Sheffield United

Sheffield United

Southampton

Southampton

Watford

Watford

Wolverhampton Wanderers

Wolverhampton WanderersVị trí của các câu lạc bộ tham dự Premier League mùa 2019–20Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?

Arsenal

Arsenal

Chelsea

Chelsea

Crystal Palace

Crystal Palace

Tottenham Hotspur

Tottenham Hotspur

West Ham United

West Ham UnitedCác câu lạc bộ bóng đá ở khu vực Luân Đôn

Các câu lạc bộ ngoài Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Danh sách các câu lạc bộ bóng đá thi đấu tại giải của quốc gia khácWales

Năm 2011, câu lạc bộ của Wales tham dự Premier League lần đầu tiên, khi Swansea City giành suất lên hạng.[85][86] Trận đấu đầu tiên của Premier League diễn ra bên ngoài nước Anh là trận đấu sân nhà của Swansea City ở Sân vận động Liberty gặp Wigan Athletic ngày 20 tháng 8 năm 2011.[87] Mùa 2012–13, Swansea giành quyền tham dự Europa League khi vô địch League Cup.[88] Số câu lạc bộ của Wales tại Premier League được tăng lên 2 lần đầu tiên mùa 2013–14, khi Cardiff City giành quyền thăng hạng,[89] nhưng Cardiff City đã xuống hạng ngay mùa đó.[90] Cardiff được quay lại vào 2017-18 nhưng số lượng đội của Xứ Wales vẫn tương tự.[91]

Vì họ là thành viên của Hiệp hội bóng đá Wales (FAW), vấn đề là những câu lạc bộ như Swansea nên đại diện cho Anh hay Wales ở các giải đấu châu Âu đã đặt ra những cuộc thảo luận kéo dài tại UEFA. Swansea giành một trong ba suất của Anh tham dự Europa League mùa 2013–14 sau khi vô địch League Cup 2012–13. Quyền của các câu lạc bộ Wales thi đấu dưới danh nghĩa đại diện của Anh được tranh cãi cho tới khi Welsh UEFA làm rõ vấn đề tháng 3 năm 2012.[92]Scotland và Ireland

Việc tham dự Premier League của một vài câu lạc bộ Scotland hay Ireland được đưa ra thảo luận vài lần nhưng không có kết quả. Ý tưởng khả thi nhất là vào năm 1998, khi Wimbledon được Premier League chấp thuận di chuyển tới Dublin, Ireland, nhưng cuối cùng bị chặn lại bởi Hiệp hội bóng đá Cộng hòa Ireland.[93][94][95][96] Thêm vào đó, giới truyền thông thi thoảng lại đưa ra ý tưởng về việc hai đội bóng lớn nhất Scotland, Celtic và Rangers, nên hoặc sẽ gia nhập Premier League, nhưng không có gì ngoài các cuộc thảo luận.[97][98]Các nhà tài trợ[sửa | sửa mã nguồn]Xem thêm: Các nhà tài trợ bóng đá Anh

Từ 1993 tới 2016, Premier League đã bán quyền tài trợ giải đấu cho hai công ty; Barclays là nhà tài trợ gần nhất, họ tài trợ cho Premier League từ năm 2001 tới 2016 (trước 2004, tài trợ thông qua thương hiệu Barclaycard trước khi trở lại với nhãn hiệu ngân hàng chính năm 2004).[99]

Giai đoạn Nhà tài trợ Tên
1992–1993 Không nhà tài trợ FA Premier League
1993–2001 Carling FA Carling Premiership[14]
2001–2004 Barclaycard FA Barclaycard Premiership[14]
2004–2007 Barclays FA Barclays Premiership
2007–2016 Barclays Premier League[14][100]
2016– Không nhà tài trợ Premier League

Hợp đồng của Barclays với Premier League kết thúc vào cuối mùa giải 2015–16. FA thông báo vào ngày 4 tháng 6 năm 2016, rằng sẽ không còn bất cứ nhà tài trợ nào gắn tên với Premier League nữa, họ muốn xây dựng một thương hiệu “sạch” cho giải đấu giống như các giải đấu thể thao nhà nghề Mỹ.[101]

Xem thêm  Từ đây đến tết còn bao nhiêu ngày ?

Ngoài nhà tài trợ chính của giải đấu, Premier League còn có một số đối tác chính thức và các nhà cung cấp.[102] Bóng chính thức được cung cấp bởi Nike có hợp đồng từ mùa 2000–01 khi họ giành được quyền từ tay Mitre.[103]Tài chính[sửa | sửa mã nguồn]Xem thêm: Danh sách các chủ sở hữu các câu lạc bộ bóng đá Anh

Premier League là giải đấu bóng đá có doanh thu cao nhất thế giới, với tổng doanh thu các câu lạc bộ là 2.48 tỉ Euro mùa 2009–10.[104][105] Mùa 2013–14, do doanh thu truyền hình được cải thiện và kiểm soát chi phí, Premier League đã có lợi nhuận ròng vượt trên 78 triệu bảng Anh, vượt qua tất cả các giải bóng đá khác.[106] Năm 2010 Premier League giành Giải thưởng Nữ hoàng dành cho doanh nghiệp trong hạng mục Thương mại quốc tế tôn vinh những đóng góp xuất sắc của họ đối với thương mại quốc tế và giá trị mà nó mang lại cho bóng đá Anh và ngành công nghiệp truyền hình của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.[107]

Premier League có một vài câu lạc bộ giàu nhất thế giới. Bảng xếp hạng “Football Money League” của Deloitte có bảy câu lạc bộ Premier League nằm trong top 20 trong mùa giải 2009–10,[108] và cả 20 câu lạc bộ nằm trong top 40 toàn cầu tới cuối mùa 2013–14, phần lớn là kết quả của việc tăng doanh thu bản quyền truyền hình.[109] Từ năm 2013, giải đấu thu về 2.2 tỉ Euro một năm tiền bản quyền truyền hình nội địa và quốc tế.[4]

Các câu lạc bộ tại Premier League đã đồng ý về nguyên tắc trong tháng 12 năm 2012, để kiểm soát chi phí mới một cách triệt để. Hai đề xuất bao gồm quy tắc hòa vốn và một mức trần mà các câu lạc bộ có thể tăng quỹ lương của họ theo từng mùa.[110]Bản quyền truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Anh và Ireland[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1992, sau khi 20 CLB hàng đầu nước Anh rời hệ thống Football League, Ngoại hạng Anh ra đời và hoạt động như một tập đoàn. Nó được điều hành bởi chính các đội bóng tham dự, độc lập với Liên đoàn bóng đá Anh. Sky là kênh phát sóng chủ yếu giải đấu này tại Vương quốc Anh và Ireland, sau này có thêm các kệnh khác cùng phát như ESPN, Setanta Sports, hiện nay là BT Sport, BT Sport bắt đầu nhảy vào tranh chấp miếng bánh ngon này với Sky, kênh truyền hình từ trước đến nay vốn độc quyền giải đấu trên lãnh thổ Anh từ năm 2013. Khi ấy, nhờ luật “đấu thầu mù” của Ngoại hạng Anh, hãng này bất ngờ lần đầu tiên giành quyền phát sóng 38 trận mỗi mùa. Từ khi BT Sport nhảy vào, giá bản quyền truyền hình trong lãnh thổ Anh tăng đột biến, từ 1,5 tỷ đôla mỗi mùa trong khoảng thời gian 2013–2016 lên 2,6 tỷ đôla trong giai đoạn 2016–2019. Tính ra, mỗi trận đấu từ năm 2016 sẽ có giá 15 triệu đôla chỉ riêng trên đất Anh.

Mùa Sky Đài khác Tổng
1992–1993 60 60
1993–1997 66 66
1997–2001 66 66
2001–2004 110* 110
2004–2007 138* 138
2007–2009 96 Setanta 42 138
2009–2010 96 ESPN 42 138
2010–2013 115 23 138
2013–2016 116 BT Sport 38 154
2016–2019 126 42 168
2019–2020 153 64 Amazon Prime Video 24 BBC 4 245
2020–2021 162 85 28 8 281
2021–2022 128 52 20 200[111]

Toàn thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Premier League là giải đấu bóng đá được xem nhiều nhất trên thế giới, phát sóng trên 212 vùng lãnh thổ tới 643 triệu hộ gia đình và khoảng 4,7 tỉ khán giả truyền hình. Tại Việt Nam, từ hơn 20 năm trước, người hâm mộ vẫn được thưởng thức miễn phí EPL trên truyền hình khi giải phát trên sóng VTV3. Nhưng sau đó, một số đài truyền hình trả tiền tại Việt Nam muốn tăng thị phần nên đã sẵn sàng bỏ ra hàng núi tiền để mua độc quyền bản quyền phát sóng EPL. Cuộc đua giữa các nhà đài luôn diễn ra rất căng thẳng khiến giá bản quyền EPL tăng với tốc độ phi mã. Kể từ năm 2010 đến nay, công ty truyền hình số vệ tinh VSTV (K+ – liên doanh giữa VTV và Canal Plus) đã đánh bật các đối thủ khác trong nước và trở thành đơn vị duy nhất sở hữu tất cả các trận đấu của mỗi mùa giải[112].Khoảng cách với các giải đấu thấp hơn[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng cách giữa Premier League và Football League ngày càng tăng. Kể từ khi tách khỏi Football League, nhiều câu lạc bộ sáng lập Premier League vẫn đang vật lộn ở các giải thi đấu thấp hơn. Do một phần lớn là sự chênh lệch về doanh thu bản quyền truyền hình giữa các giải đấu,[113] nhiều câu lạc bộ mới lên hạng rất khó khăn để trụ lại sau mùa giải đầu tiên của họ tại Premier League. Ở mọi mùa bóng trừ 2001–02, 2011–12 và 2017–18 có ít nhất một đội bóng mới lên Premier League phải quay trở lại với Football League. Mùa 1997–98, cả ba đội mới lên hạng đều phải xuống hạng vào cuối mùa bóng.[114]

Premier League vẫn phân chia một phần doanh thu bản quyền truyền hình cho các câu lạc bộ phải xuống hạng. Bắt đầu từ mùa 2013–14, khoản này đã vượt quá 60 triệu bảng cho bốn mùa bóng.[115] Mặc dù đã có kế hoạch để giúp các đội bóng điều chỉnh sự không cân đối về doanh thu truyền hình (trung bình các đội Premier League nhận 55 triệu bảng[116] trong khi đó các câu lạc bộ Football League Championship chỉ là 2 triệu),[117] người ta cho rằng chính các khoản được chia này đã làm sâu thêm khoảng cách giữa các đội từng được tham dự Premier League với các câu lạc bộ khác,[118] dẫn đến việc các câu lạc bộ thường trở lại sau khi xuống hạng. Một vài câu lạc bộ không thể quay trở lại ngay với Premier League, các vấn đề về tài chính, bao gồm một vài trường hợp bị chính quyền tiếp quản hoặc thậm chí là phá sản.[119][120]Các sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]Bài chi tiết: Danh sách các sân vận động Giải bóng đá Ngoại hạng Anh

Tính tới mùa 2017–18, Premier League đã được diễn ra trên 58 sân vận động kể từ mùa giải đầu tiên của Premier League.[121] Sau thảm họa Hillsborough năm 1989 và kết quả của Báo cáo Taylor đề nghị loại bỏ khán đài đứng; kết quả là các sân vận động tại Premier League đều là khán đài ngồi.[122][123] Từ khi thành lập Premier League, các sân bóng ở Anh đã được nâng cấp sức chứa và cơ sở vật chất, một số câu lạc bộ còn chuyển tới những sân vận động xây mới.[124] 9 sân vận động từng diễn ra Premier League đã bị phá hủy. Các sân đấu của mùa 2010–11 sân có sức chứa lớn nhất là: Old Trafford, sân nhà của Manchester United với sức chứa 75,957[125] còn nhỏ nhất là Vitality stadium, sân nhà của Bournemouth A.F.C., với sức chứa 11464.[126] Tổng sức chứa của các sân vận động Premier League mùa 2017–18 là 806,033 trung bình là 40,302 một sân.[127]

Khán giả tới sân là một nguồn thu đáng kể của các câu lạc bộ Premier League.[128] Mùa 2016–17, trung bình có 35,838 khán giả tới xem một trận đấu tại Premier League trong tổng số 13,618,596.[127] Con số này tăng 13,089 so với số 21,126 khán giả ghi nhận trong mùa giải đầu tiên (1992–93).[129] Tuy nhiên, sau mùa bóng 1992–93, sức chứa của các sân giảm xuống do phải loại bỏ khán đài đứng và đến hạn chót là mùa 1994–95 các sân phải bao gồm toàn bộ khán đài ngồi.[130][131] Kỉ lục trung bình khán giả tới sân tại Premier League là 36,144 được thiết lập vào mùa giải 2007–08.[132] Kỉ lục đó sau đó bị phá mùa 2013–14 với 36,695 khán giả, cao nhất kể từ năm 1950.[133]Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]Xem thêm: Danh sách huấn luyện viên Giải bóng đá Ngoại hạng Anh

Huấn luyện viên tại Premier League phụ trách đội bóng ngày qua ngày bao gồm tập luyện, lựa chọn đội hình và mua bán cầu thủ. Tầm ảnh hưởng của họ thay đổi từ cầu lạc bộ này đến câu lạc bộ khác và có liên quan tới chủ sở hữu đội bóng và mối quan hệ với các cổ động viên.[134] Các huấn luyện viên phải đạt chứng chỉ UEFA Pro Licence bằng cấp cao nhất, sau khi hoàn thành cả UEFA ‘B’ và ‘A’ Licences.[135] UEFA Pro Licence là yêu cầu cần thiết đối với những người muốn huấn luyện lâu dài tại Premier League (nghĩa là dưới 12 tuần là thời gian huấn luyện viên tạm quyền được cho phép huấn luyện đội bóng).[136] Vị trí tạm quyền sẽ được bổ nhiệm trong khoảng thời gian trống chờ đợi huấn luyện viên chính thức mới. Một vài huấn luyện viên đã được bổ nhiệm làm huấn luyện viên chính thức sau thời gian tạm quyền; ví dụ như trường hợp của Paul Hart ở Portsmouth hay David Pleat ở Tottenham Hotspur.

Huấn luyện viên có thời gian làm việc dài nhất là Alex Ferguson, người nắm quyền Manchester United từ tháng 11 năm 1986 tới khi nghỉ hưu mùa 2012–13, nghĩa là ông huấn luyện cả 21 mùa đầu tiên của Premier League. Arsène Wenger hiện là huấn luyện viên có thời gian làm việc dài nhất, khi dẫn dắt Arsenal tại Premier League từ 1996.[137]. Hiện tại ông đã không còn dẫn dắt Arsenal F.C

Các huấn luyện viên giành chức vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?Cựu huấn luyện viên Manchester United Sir Alex Ferguson người huấn luyện lâu nhất và thành công nhất Premier League.

Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?

Các HLV hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]Xem thêm: Kỷ lục và số liệu thống kê Giải bóng đá Ngoại hạng Anh § Kỷ lục cầu thủ, và Danh sách cầu thủ vô địch Giải bóng đá Ngoại hạng Anh

Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?

Số lần ra sân[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Danh sách cầu thủ Giải bóng đá Ngoại hạng Anh thi đấu hơn 500 trận

Gareth Barry đang giữ kỉ lục số lần ra sân tại Premier League, nhiều hơn bất cứ cầu thủ nào.[139]

Cầu thủ nước ngoài và quy định chuyển nhượng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Danh sách cầu thủ nước ngoài Giải bóng đá Ngoại hạng Anh và Danh sách cầu thủ nước ngoài ghi bàn tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh

Trong mùa giải Premier League đầu tiên 1992–93, ở vòng đấu mở màn chỉ có 11 cầu thủ ra sân trong đội hình xuất phát đến từ bên ngoài của Vương quốc Anh hoặc Ireland.[140] Tới mùa 2000–01, số cầu thủ nước ngoài tham dự Premier League là 36%. Mùa 2004–05 con số tăng lên 45%. Ngày 26 tháng 12 năm 1999, Chelsea trở thành đội bóng đầu tiên tại Premier League ra sân với toàn cầu thủ nước ngoài,[141] còn ngày 14 tháng 2 năm 2005, Arsenal trở thành đội bóng đầu tiên đăng ký cả 16 cầu thủ cho 1 trận đấu là người nước ngoài.[142] Tới năm 2009, chỉ còn dưới 40% cầu thủ tham dự Premier League là người Anh.[143]

Để đối phó với những lo ngại rằng các câu lạc bộ ngày càng bỏ qua các cầu thủ trẻ Anh để sử dụng các cầu thủ nước ngoài, năm 1999, Cục Xuất nhập cảnh Vương quốc Anh thắt chặt quy định của cấp giấy phép lao động cho cầu thủ đến từ ngoài Liên minh châu Âu.[144] Một cầu thủ ngoài EU chỉ được cấp giấy phép lao động khi thi đấu 75% số trận đấu hạng ‘A’ mà cầu thủ đó được lựa chọn trong vòng 2 năm, và quốc gia của cầu thủ đó trung bình phải xếp ít nhất là thứ 70 trong bảng xếp hạng FIFA trong vòng 2 năm. Nếu 1 cầu thủ không đạt được những tiêu chí đó, câu lạc bộ muốn ký hợp đồng với cầu thủ đó có thể đưa ra lời yêu cầu.[145]

Các cầu thủ sẽ chỉ được chuyển nhượng khi thị trường chuyển nhượng mở cửa bởi Hiệp hội bóng đá. Sẽ có 2 kỳ chuyển nhượng bắt đầu từ ngày cuối cùng của mùa giải tới 31 tháng 8 và từ 31 tháng 12 tới 31 tháng Giêng. Cầu thủ đã được đăng ký sẽ không được thay đổi trong kì chuyển nhượng đó trừ khi có giấy phép đặc biệt từ FA, thường là trong trường hợp khẩn.[146] Tới mùa 2010–11, Premier League đưa ra luật mới về việc các câu lạc bộ chỉ được phép đăng ký tối đa 25 cầu thủ trên 21 tuổi, cùng với đó là danh sách đội hình chỉ được phép thay đổi trong kì chuyển nhượng hoặc trong trường hợp đặc biệt. Cùng với đó là khái niệm ‘home grown’ cũng được áp dụng, theo đó cũng từ năm 2010 ít nhất là 8 trong số 25 cầu thủ đăng ký phải là ‘cầu thủ home-grown’.[147][148]

Lương cầu thủ và phí chuyển nhượng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Kỷ lục chuyển nhượng bóng đá Anh

Không có mức lương trần dành cho một cá nhân hay một đội bóng nào tại Premier League. Đây là kết quả của những bản hợp đồng bản quyền truyền hình ngày càng hấp dẫn, lương các cầu thủ tăng mạnh kể từ khi Premier League ra đời khi mà mức lương trung bình của cầu thủ chỉ là 75.000 bảng Anh một năm.[149] Mức lương trung bình vào mùa 2008–09 là 1,1 triệu bảng.[150] Tới năm 2015, trung bình lương của Premier League cao nhất trong các giải bóng đá trên thế giới.[151]

Kỷ lục chuyển nhượng dành cho một cầu thủ Premier League tăng đều đặn qua từng năm. Trước khi bắt đầu mùa giải Premier League đầu tiên Alan Shearer mới trở thành cầu Anh có mức chuyển nhượng trên 3 triệu bảng.[152] Các kỷ lục tăng đều đặn trong vài mùa giải đầu tiên ở Premier League, cho đến khi Alan Shearer đã phá vỡ kỷ lục 15 triệu bảng khi chuyển tới Newcastle United vào năm 1996.[152] Ba kỉ lục chuyển nhượng cao nhất lịch sử thể thao thì đều là các câu lạc bộ Premier League bán đi, khi Tottenham Hotspur bán Gareth Bale cho Real Madrid với giá 85 triệu bảng năm 2013,[153] Manchester United bán Cristiano Ronaldo cho Real Madrid với mức giá 80 triệu bảng năm 2009,[154] và Liverpool bán Luis Suárez cho Barcelona thu về 75 triệu năm 2014.[155]

Cầu thủ ghi bàn hàng đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm: Danh sách cầu thủ Giải bóng đá Ngoại hạng Anh ghi hơn 100 bàn, Danh sách cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất Giải bóng đá Ngoại hạng Anh theo mùa, Chiếc giày vàng Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, và Danh sách hat-trick tại Giải Ngoại hạng AnhNgoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?Alan Shearer là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất lịch sử Premier League.Tính đến 4 tháng 11 năm 2018.

Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?

Nghiêng cầu thủ vẫn đang thi đấu chuyên nghiệp.
Đậm hiện đang thi đấu tại Premier League. [138]

Chiếc giày vàng được trao cho cầu thủ ghi nhiều bàn thắng tại Premier League vào cuối mỗi mùa bóng. Cựu tiền đạo Blackburn Rovers và Newcastle United Alan Shearer đang giữ kỉ lục ghi nhiều bàn thắng nhất tại Premier League với 260.[156] Hai mươi tư cầu thủ đã đạt cột mốc 100 bàn thắng.[157] Kể từ mùa giải Premier League đầu tiên 1992–93, 14 cầu thủ đến từ 10 câu lạc bộ khác nhau đã giành hoặc chia sẻ danh hiệu vua phá lưới giải đấu.[158] Thierry Henry giành danh hiệu vua phá lưới thứ tư với 27 bàn vào mùa 2005–06. Andrew Cole và Alan Shearer cùng nhau giữ kỉ lục ghi nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải (34) – cho lần lượt Newcastle và Blackburn.[159] Ryan Giggs của Manchester United giữ kỉ lục ghi bàn trong nhiều mùa liên tiếp nhất, với việc ghi bàn trong cả 21 mùa giải đầu tiên.[160]Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm  Phụ nữ có the quan hệ đến bao nhiêu tuổi ?

Cúp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?Cúp Premier League

Premier League có 2 chiếc cúp – một chiếc cúp thật (được giữ bởi nhà đương kim vô địch) và một bản sao dự trữ. Hai chiếc cúp sẽ được sử dụng trong trường hợp hai câu lạc bộ có thể có cơ hội vô địch ở ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải.[161] Trong trường hợp có nhiều hơn hai đội cùng cạnh tranh nhau chức vô địch trong ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải – thì một bản sao từng được giành bởi một câu lạc bộ trước đó sẽ được sử dụng.[162]

Chiếc cúp Premier League hiện tại được tạo ra bởi Royal Jewellers Asprey of London. Chiếc cúp bao gồm thân cúp với chiếc vương miện bằng vàng và chiếc đế bằng malachit. Chiếc đế nặng 33 pound (15 kg) còn thân cúp nặng 22 pound (10,0 kg).[163] Cả thân và đế cao 76 cm (30 in), rộng 43 cm (17 in) và sâu 25 cm (9,8 in).[164]

Thân chính được làm từ bạc đặc thật và bạc mạ vàng, trong khi đó đế được làm từ malachit, một loại đá quý. Đế có một dải bạc xung quanh chu vi của nó, nơi ghi tên các nhà vô địch giải đấu. Malachit màu xanh cũng là tượng trưng cho màu xanh của cỏ trên sân.[164] Chiếc cúp được thiết kế dựa trên huy hiệu của Tam Sư kết hợp với bóng đá Anh. Hai con sư tử được đặt ở hai bên chiếc cúp phía trên tay nắm– con thứ ba được biểu tượng chính là người đội trưởng của đội vô địch người nâng cao chiếc cúp, và khi ấy chiếc vương miện vàng sẽ ở trên đầu của anh ta.[165] Các ruy băng treo lên tay nắm được thể hiện bằng màu của đội vô địch giải đấu năm đó.

Năm 2004, một phiên bản vàng đặc biệt được trao cho Arsenal khi họ giành chức vô địch mà không để thua một trận đấu nào.[166]

Các giải thưởng cho cầu thủ và huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh việc cúp dành cho đội vô địch và huy chương dành cho các cá nhân cầu thủ, Premier League cũng trao các giải Huấn luyện viên xuất sắc nhất tháng và Cầu thủ xuất sắc nhất hàng tháng.[167] Có cả các giải Huấn luyện viên xuất sắc nhất mùa giải,[168] Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải.[169]

Hàng năm có giải Chiếc giày vàng và Găng tay vàng hàng năm.[170]

Giải thưởng 20 năm[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Giải thưởng 20 năm Giải bóng đá Ngoại hạng Anh và Giải thưởng 10 năm Giải bóng đá Ngoại hạng Anh

Năm 2012, Premier League kỉ niệm thập niên thứ hai bằng lễ trao Giải thưởng 20 năm:[171]

  • Đội hình tiêu biểu
    • Chuyên gia bình chọn: Peter Schmeichel, Gary Neville, Tony Adams, Rio Ferdinand, Ashley Cole, Cristiano Ronaldo, Roy Keane, Paul Scholes, Ryan Giggs, Thierry Henry, Alan Shearer
    • Khán giả bình chọn: Peter Schmeichel, Gary Neville, Tony Adams, Nemanja Vidić, Ashley Cole, Cristiano Ronaldo, Steven Gerrard, Paul Scholes, Ryan Giggs, Thierry Henry, Alan Shearer
  • Huấn luyện viên xuất sắc nhất: Sir Alex Ferguson
  • Cầu thủ xuất sắc nhất: Ryan Giggs
  • Ra sân nhiều lần nhất: Ryan Giggs (598)
  • Ghi được nhiều bàn thắng nhất: Alan Shearer (260)
  • Giữ sạch lưới nhiều nhất: David James (173)
  • Câu lạc bộ 500: Ryan Giggs, David James, Gary Speed, Frank Lampard, Emile Heskey, và Sol Campbell.
  • Bàn thắng đẹp nhất: Wayne Rooney, 12 tháng 2 năm 2011, Man. United vs Man. City
  • Cứu thua xuất sắc nhất: Craig Gordon, 18 tháng 12 năm 2010, Sunderland vs Bolton
  • Bàn thắng đẹp nhất: Arsenal 2003–04

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ When will goal-line technology be introduced? Lưu trữ 2013-07-09 tại Wayback Machine Tổng số trận đấu có thể được tính sử dụng công thức n*(n-1) trong đó n là tổng số đội.
  2. ^
  3. ^
  4. a b 11 tháng 11 năm 2013/top-soccer-leagues-get-25-rise-in-tv-rights-sales-report-says.html “Top Soccer Leagues Get 25% Rise in TV Rights Sales, Report Says”. Bloomberg. Truy cập 4 tháng 8 năm 2014.
  5. ^ “Premier League Payments to Clubs”. Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2016. Truy cập 30 tháng 1 năm 2016.
  6. ^
  7. ^
  8. ^
  9. ^ “Premier League 2014/2015 » Attendance » Home matches”. worldfootball.net. Truy cập 30 tháng 1 năm 2016.
  10. ^ “German Bundesliga Scoring Stats – 2018-19”. Espnfc.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2018.
  11. ^ Henry Chard. “Your ground’s too big for you! Which stadiums were closest to capacity in England last season?”. Sky Sports. Truy cập 30 tháng 1 năm 2016.
  12. ^ uefa.com (31 tháng 7 năm 2018). “Member associations – News – UEFA.com”.
  13. ^
  14. a b c d e f “A History of The Premier League”. Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2007.
  15. ^ “The Taylor Report”. Football Network. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2006. Truy cập 22 tháng 11 năm 2017.
  16. ^ Taylor, Matthew (18 tháng 10 năm 2013). The Association Game: A History of British Football. Routledge. tr. 342. ISBN 9781317870081.
  17. a b Taylor, Matthew (18 tháng 10 năm 2013). The Association Game: A History of British Football. Routledge. tr. 343. ISBN 9781317870081.
  18. ^ Crawford, Gerry. “Fact Sheet 8: British Football on Television”. Centre for the Sociology of Sport, University of Leicester. Bản gốc lưu trữ 6 tháng 6 năm 2011. Truy cập 10 tháng 8 năm 2016.
  19. ^ Lipton, Martin (5 tháng 10 năm 2017). “Chapter 15: Mr Chairman”. White Hart Lane: The Spurs Glory Years 1899–2017. Weidenfeld & Nicolson. ISBN 9781409169284.
  20. ^
  21. a b c “The History of the Football League”. Football League. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 4 năm 2008. Truy cập 12 tháng 9 năm 2014.
  22. a b
  23. ^
  24. a b
  25. ^
  26. ^
  27. ^
  28. ^ “Final 1992/1993 English Premier Table”. Soccerbase. Racing Post. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010.
  29. ^ Lovejoy, Joe (2011). “3. The Big Kick-Off”. Glory, Goals and Greed: Twenty Years of the Premier League. Random House. ISBN 978-1-78057-144-7.
  30. ^
  31. ^
  32. ^
  33. ^
  34. ^
  35. ^ “UEFA Champions League – History: Finals by season”. UEFA. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2018.
  36. ^ Góc nhìn: Vì sao Arsenal không thể vô địch Champions League? | TTVH Online
  37. ^ “UEFA Europa League – History: Finals by season”. UEFA. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2018.
  38. a b Jolly, Richard (ngày 11 tháng 8 năm 2011). “Changing dynamics of the ‘Big Six’ in Premier League title race”. The National. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013.
  39. ^ “Champions League defeat could ruin Tottenham’s season says Vedran Corluka”. The Telegraph. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2014
  40. ^
  41. ^ “Premier League: Why has it become so hard to defend the title?”. BBC. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2018
  42. ^ Cox, Michael (ngày 7 tháng 8 năm 2018). “Why can’t defending Premier League champions retain the title?”. ESPN.com. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2018.
  43. ^
  44. ^ “Leicester City win Premier League title after Tottenham draw at Chelsea”. BBC Sport. ngày 2 tháng 5 năm 2016.
  45. ^ “Premier League clubs aim to block rich six’s bid for a bigger share of TV cash”. The Guardian. ngày 27 tháng 9 năm 2017.
  46. ^ “The changing shape of the Premier League: how the ‘big six’ are pulling away”. The Telegraph. ngày 2 tháng 10 năm 2017.
  47. ^
  48. a b c Miller, Nick (ngày 15 tháng 8 năm 2017). “How the Premier League has evolved in 25 years to become what it is today”. ESPN. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018.
  49. ^
  50. ^ “English Premier League Table – 2007–08”. ESPN. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2018.
  51. ^ “Premier League and Barclays Announce Competition Name Change” (PDF). Premier League. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2006.
  52. ^ curia.europa.eu C-403/08 – Football Association Premier League and Others
  53. ^ premierleague.com Privacy Policy / CONTACT
  54. ^ premierleague.com Terms & Conditions
  55. ^ “Our relationship with the clubs”. Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2006.
  56. ^
  57. ^
  58. ^ “The Premier League and Other Football Bodies”. Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
  59. ^ “ECA Members”. European Club Association. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2013.
  60. ^ “European Club Association: General Presentation”. European Club Association. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2010.
  61. ^ “Barclays Premier League”. Sporting Life. 365 Media Group. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2007.
  62. ^
  63. ^
  64. ^ “Regulations of the UEFA Europa League” (PDF). UEFA. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2012.
  65. ^ “Who qualifies to play in Europe?”. Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012.
  66. ^
  67. ^
  68. ^
  69. ^
  70. ^ “How the Europa League winners will enter the Champions League” (Thông cáo báo chí). UEFA. ngày 6 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2016.
  71. ^
  72. ^ “UEFA Champions League – History: Finals by season”. UEFA. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2018.
  73. ^ “Red Devils rule in Japan”. Fédération Internationale de Football Association. ngày 21 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  74. a b “Sao Paulo FC – Liverpool FC”. Fédération Internationale de Football Association. ngày 18 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  75. a b “Guerrero the hero as Corinthians crowned”. Fédération Internationale de Football Association. ngày 16 tháng 12 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  76. ^ “Corinthians – Vasco da Gama”. Fédération Internationale de Football Association. ngày 14 tháng 1 năm 2000. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  77. ^ “Sport Clube Internacional – FC Barcelona”. Fédération Internationale de Football Association. ngày 17 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  78. ^ “Club Estudiates de la Plata – FC Barcelona”. Fédération Internationale de Football Association. ngày 19 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  79. ^ “Santos humbled by brilliant Barcelona”. ‘Fédération Internationale de Football Association. ngày 18 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  80. ^ “Boca Juniors – AC Milan”. Fédération Internationale de Football Association. ngày 16 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  81. ^ “Internazionale on top of the world”. Fédération Internationale de Football Association. ngày 18 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  82. ^ [liên kết hỏng]
  83. ^
  84. ^ “Clubs”. Premier League. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2018.
  85. ^
  86. ^ “Swansea wins promotion to EPL”. ESPN. Associated Press. ngày 30 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2013.
  87. ^
  88. ^ “Swans end Bantams fairytale”. ESPN FC. ngày 24 tháng 2 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2013.
  89. ^ “Cardiff Becomes Second Welsh Team in English Premier League”. The Sports Network. Associated Press. ngày 16 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2013.
  90. ^
  91. ^ Liverpool Finish Fourth as Swansea are Relegated
  92. ^ “Uefa give Swansea and Cardiff European assurance”. BBC Sport. British Broadcasting Corporation. ngày 21 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2013.
  93. ^ Hammam 2000, tr. 3
  94. ^
  95. ^
  96. ^
  97. ^
  98. ^
  99. ^
  100. ^ “Barclays renews Premier sponsorship”. premierleague.com. Premier League. ngày 23 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2009.
  101. ^
  102. ^ “Partners”. premierleague.com. Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2010.
  103. ^
  104. ^
  105. ^
  106. ^
  107. ^ “Prestigious Award for Premier League”. Premier League. ngày 21 tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2010.
  108. ^ “Top 20 clubs Deloitte Football Money League 2011”. Deloitte. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013.
  109. ^ “Deloitte Football Money League 18th Edition” (pdf). tháng 1 năm 2015. tr. 3. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2015.
  110. ^
  111. ^ “Sales of UK and Ireland live TV rights decided”. Premier League (Thông cáo báo chí). Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2018.
  112. ^ “K+ TRỞ THÀNH ĐƠN VỊ PHÁT SÓNG ĐỘC QUYỀN TOÀN BỘ GIẢI NGOẠI HẠNG ANH TẠI VIỆT NAM TRONG 3 MÙA GIẢI (2019 – 2022)”. www.kplus.vn. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2021.
  113. ^
  114. ^
  115. ^ “Premier League’s relegated clubs to receive £60m boost”.
  116. ^
  117. ^ “Richard Scudamore takes big stick to Championship over parachute money”.
  118. ^
  119. ^
  120. ^
  121. ^ “What’s new this season: Stadiums”. Premier League. ngày 4 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2017.
  122. ^
  123. ^
  124. ^
  125. ^ Morgan, Steve (tháng 3 năm 2010). McLeish, Ian (biên tập). “Design for life”. Inside United. Haymarket Network (212): 44–48. ISSN 1749-6497.
  126. ^ “SCHEDULE OF ACCOMMODATION (General Condition 5.1.1)”. General Safety Certificate 2010/11. Blackpool: Blackpool Council: 21.
  127. a b “Premier League Handbook: Season 2010/11” (PDF). Premier League. 2010. tr. 454. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2010.
  128. ^ Buraimo, Babatunde; Simmons, Rob (2006). “Market size and attendance in English Premier League football” (PDF). Lancaster University Management School Working Paper. Lancaster University Management School. 2006/003. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010.[liên kết hỏng]
  129. ^ “Football Stats Results for 1992–1993 Premiership”. football.co.uk. DigitalSportsGroup. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2006.
  130. ^ “Fact Sheet 2: Football Stadia After Taylor”. University of Leicester. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2006.
  131. ^ “Shifting stands”. Soccernet. ESPN. ngày 27 tháng 7 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2006.
  132. ^ “United Kingdom: Deloitte Annual Review Of Football Finance Highlights”. Deloitte Sports Business Group. Mondaq. ngày 4 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2010.
  133. ^
  134. ^ Kelly, Seamus; Harris, John (2010). “Managers, directors and trust in professional football”. Sport in Society: Cultures, Commerce, Media, Politics13 (3): 489–502. doi:10.1080/17430431003588150.
  135. ^ [liên kết hỏng]
  136. ^
  137. ^ “Longest serving managers”. League Managers Association. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010.
  138. a b “Barclays Premier League Statistics”. Premier League. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2018.
  139. ^ “Player Profile – Ryan Giggs – Career History”. Premier League. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013.
  140. ^
  141. ^
  142. ^
  143. ^
  144. ^ “New Work Permit Criteria for Football Players Announced”. Department for Education and Employment. HM Government. ngày 2 tháng 7 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2007.
  145. ^ “Work permit arrangements for football players”. Home Office. HM Government. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2007.
  146. ^ “Premier League rules” (PDF). Premier League. 2010. tr. 150. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2010.
  147. ^ “Home Grown Player rules”. Premier League. ngày 16 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2010.
  148. ^
  149. ^
  150. ^
  151. ^
  152. a b
  153. ^
  154. ^
  155. ^
  156. ^
  157. ^ “Players by Statistic”. Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2016. Truy cập tháng 8 năm 2013.
  158. ^ “Torres wins Barclays Golden Boot landmark”. Premier League. ngày 26 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010.
  159. ^
  160. ^ “Ryan Giggs goal makes him only person to score in all PL seasons trivia”. SportBusiness. SBG Companies Ltd. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2009.
  161. ^ “Is there more than one Premier League trophy?”. Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014.
  162. ^ Rumsby, Ben (ngày 28 tháng 4 năm 2014). “Premier League consider borrowing a championship trophy as season heads for three-way climax”. The Telegraph. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014.
  163. ^
  164. a b “The Premier League Trophy”. Premier Skills. British Council. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013.
  165. ^ “What makes the Barclays Premier League Trophy so special?”. Barclays. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010.
  166. ^ “Arsenal v Middlesbrough”. Getty Images. ngày 22 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2010.
  167. ^
  168. ^
  169. ^
  170. ^
  171. ^

Tài liệu tham khảo

  • Hammam, Sam (14 tháng 1 năm 2000). The Wimbledon We Have. London: Wimbledon FC.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?
  • Trang web chính thức (tiếng Anh) (tiếng Indonesia) (tiếng Bồ Đào Nha) (tiếng Tây Ban Nha) (tiếng Thái) (tiếng Trung)
  • Giải bóng đá Ngoại hạng Anh trên DMOZ
  • Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?Cổng thông tin Bóng đá
  • Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?Cổng thông tin Châu Âu
Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?
Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?
hiệnGiải thưởng bóng đá Anh
hiệnCác giải bóng đá nam vô địch quốc gia châu Âu ( UEFA)
Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?

Thể loại:

  • Giải bóng đá Anh
  • Giải bóng đá Ngoại hạng Anh
  • Khởi đầu năm 1992 ở Anh
  • Giải bóng đá vô địch quốc gia châu Âu
  • Giải thể thao thành lập năm 1992
  • Giải thể thao chuyên nghiệp Vương quốc Liên hiệp Anh

Thể loại ẩn:

  • Bản mẫu webarchive dùng liên kết wayback
  • Trang có lỗi URL
  • Trang có tham số chú thích dư
  • Bài có liên kết hỏng
  • Lỗi không có mục tiêu Harv và Sfn
  • CS1: giá trị quyển dài
  • Lỗi CS1: ngày tháng
  • Bài viết có văn bản tiếng Anh
  • Bài viết sử dụng hCard
  • Trang sử dụng div col có các tham số không rõ
  • Trang web chính thức khác nhau giữa Wikidata và Wikipedia
  • Bài viết chứa liên kết DMOZ
  • Bài viết chứa nhận dạng NKC
  • Bài viết chứa nhận dạng VIAF
  • Wikipedia articles with WorldCat-VIAF identifiers
  • Bài viết chất lượng tốt

Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?29
Th7

Bóng đá Ngoại hạng Anh có bao nhiêu vòng đấu? Bài viết dưới đây của U-League.vn sẽ cho các bạn câu trả lời.Bóng đá Ngoại hạng Anh là gì?

Ngoại hạng Anh tên tiếng Anh đầy đủ là English Premier League (viết tắt là EPL) là giải bóng đá chuyên nghiệp dành cho các đội bóng Anh.

This is the highest level league in the English football league system, officially established in February 1992 with the first name FA Premier League.

Giải Ngoại hạng Anh không chỉ là một trong những giải đấu hấp dẫn nhất của bóng đá Xứ sở sương mù mà còn được coi là giải đấu hấp dẫn nhất hành tinh nhờ sự cạnh tranh khốc liệt từ các CLB tên tuổi như Man United, Man City, Chelsea, Liverpool, Arsenal. , Tottenham …

Giải bóng đá ngoại hạng Anh có tổng cộng 20 đội tham dự, sử dụng hệ thống thăng hạng và xuống hạng với Liên đoàn bóng đá Anh (EFL). Bên cạnh sự góp mặt của các câu lạc bộ tại Anh, cũng có rất nhiều đội bóng của xứ Wales có thể tham gia tranh tài.

Một mùa giải Ngoại hạng Anh thường kéo dài từ tháng 8 đến tháng 5 năm sau.

Giải Ngoại hạng Anh có 38 vòng
Giải Ngoại hạng Anh có 38 vòng

Giải bóng đá ngoại hạng Anh có bao nhiêu vòng đấu?

Một mùa giải Ngoại hạng Anh sẽ có tổng cộng 38 vòng đấu với 380 trận đấu đang diễn ra. Hầu hết các trận đấu được diễn ra vào thứ Bảy và Chủ nhật.

Thật vậy, trong mùa giải mở màn Premier League, tức là mùa giải 1992/93, có 22 đội tham dự, so với số vòng đấu đã tăng lên 42 vòng.

Điều này kéo dài đến hết mùa giải 1994/95, trước khi Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) yêu cầu giảm số đội tham dự và số vòng đấu.

Kết quả là từ mùa 1995/96, Premier League có 20 đội tham dự 38 vòng đấu, và điều này tiếp tục diễn ra cho đến ngày nay.

Giải Ngoại hạng Anh từng có 42 vòng đấu
Giải Ngoại hạng Anh từng có 42 vòng đấu

Giải bóng đá ngoại hạng Anh được chơi như thế nào?

20 CLB ở Premier League sẽ thi đấu vòng tròn 2 lượt với tổng số 38 vòng đấu. Xếp hạng được xác định như sau:

  • 1 chiến thắng 3 điểm.
  • 1 hòa 1 điểm.
  • Thua trận không có điểm.
  • 4 đội đứng đầu bảng sẽ giành vé dự Champions League, giải đấu cấp CLB danh giá nhất châu Âu, còn đội xếp thứ 5 sẽ giành quyền tham dự vòng bảng Europa League, giải đấu hạng nhì châu Âu sau Champions League. Liên đoàn.

Ngược lại, 3 đội có điểm số thấp nhất sẽ xuống hạng ở Giải Ngoại hạng Anh (Championship) mùa sau.

Ngoài ra, đội vô địch với đội nhì bảng sẽ được thăng hạng lên chơi ở Premier League mùa sau. Vị trí còn lại ở Premier League sẽ được quyết định bởi kết quả của trận play-off giữa các đội từ thứ Ba đến thứ Sáu tại Championship.

Đội vượt qua vòng play-off sẽ giành vé thăng hạng lên chơi ở Premier League Vì sao bóng đá Nhật Bản ngày càng phát triển?


Video Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?

Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết Ngoại hạng anh có bao nhiêu vòng ?! Swing for Truongsa hi vọng đã mang đến thông tin hữu ích cho bạn. Xem thêm các bài viết cùng danh mục Hỏi đáp. Mọi ý kiến thắc mắc hãy comment bên dưới, chúng tôi sẽ phản hồi sớm nhất có thể. Nếu thấy hay hãy chia sẻ bài viết này cho nhiều người được biết. Swing for Truongsa chúc bạn ngày vui vẻ